Lịch sử Podcast

The Trent Affair

The Trent Affair



We are searching data for your request:

Forums and discussions:
Manuals and reference books:
Data from registers:
Wait the end of the search in all databases.
Upon completion, a link will appear to access the found materials.

The Trend Affair là cuộc khủng hoảng ngoại giao lớn đầu tiên trong chính quyền của Abraham Lincoln. Vào ngày 7 tháng 11 năm 1861, hai ủy viên Liên minh miền Nam, John Slidell và James M. Mason, khởi hành từ Havana, Cuba, trên tàu hơi nước của Anh. Trent, trên đường đến Anh và Pháp trong nhiệm vụ ngoại giao. Ngày hôm sau, tàu USS San Jacinto dừng lại Trent trên biển cả. Việc bỏ tù những người đại diện miền Nam này ở Boston đã khiến Wilkes trở thành anh hùng trong mắt nhiều người miền Bắc, nhưng nó gây căng thẳng nghiêm trọng trong mối quan hệ với người Anh.Theo các công ước quốc tế, Trent và hành khách của nó lẽ ra phải được đưa vào cảng nơi mà vấn đề sẽ được xét xử trước một tòa án đô đốc. Các Times London dẫn đầu sự kích động với ngôn từ mạnh mẽ tố cáo sự xúc phạm mà trong mắt người Anh, rõ ràng là vi phạm luật pháp quốc tế. Niềm đam mê cuối cùng cũng nguội dần và vào ngày 26 tháng 12, Charles Francis Adams, đại sứ Hoa Kỳ tại Anh, có thể thông báo rằng Mason và Slidell đã được "giải phóng một cách vui vẻ." được ủy quyền và theo quan điểm của Adams, kết luận của vụ việc là đúng. Ông viết: “Việc mở rộng quyền của những người trung lập trên đại dương và bảo vệ họ chống lại việc thực thi quyền lực đơn thuần là những nguyên tắc cơ bản trong hệ thống chính khách Hoa Kỳ kể từ khi thành lập Chính phủ”.


TRENT AFFAIR

Các Trent ngoại tình, xảy ra trong những năm đầu của u.s. nội chiến, thách thức các khái niệm truyền thống về tự do trên biển và quyền của những người trung lập và gần như dẫn đến một cuộc chiến tranh giữa Hoa Kỳ và Anh.

Năm 1861, Liên minh miền Nam mới thành lập đã bổ nhiệm hai sứ giả đại diện cho chính phủ của mình ở nước ngoài. James Murray Mason được chỉ định đến London, Anh, và John Slidell được gửi đến Paris, Pháp. Hai đặc phái viên đã lên đường thành công đến Havana, Cuba, nơi họ lên một con tàu của Anh, Trent, ra khơi vào ngày 7 tháng 11. Ngày hôm sau, San Jacinto, một tàu chiến của Liên minh dưới sự chỉ huy của Thuyền trưởng Charles Wilkes, một sĩ quan trong Hải quân Hoa Kỳ, đã chặn Trent. Wilkes đã hành động theo thẩm quyền của mình và bắt giữ con tàu Anh. Anh ta ra lệnh tìm kiếm Trent, và khi hai Liên minh được phát hiện, ông đã ra lệnh chuyển họ đến San Jacinto và được vận chuyển đến Fort Warren ở Boston. Các Trent được phép tiếp tục mà không bị can thiệp thêm.

Mặc dù Wilkes được người miền Bắc và một số thành viên trong nội các của Tổng thống abraham lincoln ca ngợi vì hành động chống lại Liên minh miền Nam, việc ông coi thường quyền của họ với tư cách là một cường quốc trung lập đã khiến người Anh tức giận. Wilkes đã có

đã mắc lỗi tự mình tiến hành hoạt động thay vì ra lệnh cho tàu cập cảng để tiến hành các thủ tục pháp lý để xác định xem Anh có vi phạm các quy tắc trung lập hay không. Vì Wilkes đã không tuân theo thủ tục pháp lý đã thiết lập, anh ta không có quyền di chuyển bất kỳ hàng hóa nào, con người hay những thứ khác, khỏi một con tàu khác.

Sự nóng nảy của người Anh bùng lên và những lời đe dọa chiến tranh đã được đưa ra. Các yêu cầu của Anh bao gồm một lời xin lỗi công khai và trả tự do cho hai Liên minh. Đại diện của Anh tại Hoa Kỳ chờ lệnh quay trở lại Anh nếu những yêu cầu này không được đáp ứng.

Tuy nhiên, ở Anh, tin tức về cái chết sắp xảy ra của Hoàng tử Albert đã chuyển hướng sự chú ý khỏi Trent công việc. Khi nhận được yêu cầu của người Anh ở Hoa Kỳ, Charles Francis Adams, nhà ngoại giao Hoa Kỳ tại Anh, được lệnh giải thích với người Anh rằng Wilkes đã hành động theo ý mình mà không có chỉ thị từ chính phủ. Trong khi đó, Ngoại trưởng William H. Seward đã nghiên cứu kỹ vấn đề mà ông biết rằng hành vi của Wilkes là không đúng. Seward cũng nhận thức được rằng anh ta có hai lựa chọn: chiến tranh với Anh hoặc thả những người miền Nam đang bị giam giữ. Trong một thông cáo cho Anh, Seward thừa nhận sai lầm của Wilkes, báo cáo việc thả Mason và Slidell, đồng thời đề cao tính tôn nghiêm của tự do trên biển. Chiến tranh với Anh đã được ngăn chặn và các quyền hàng hải vẫn được duy trì.


Những năm 1860

Khi cuộc nội chiến bắt đầu, căng thẳng lan rộng giữa Liên minh và Anh sau một số sự kiện nhất định xảy ra vào cuối năm 1861.

Tháng Mười Một

Vào ngày 8, tàu USS San Jacinto chặn được gói thư Trent của Anh và cũng bắt được hai nhà ngoại giao của Liên minh miền Nam đang cố gắng thuyết phục châu Âu công nhận CSA. Các nhà ngoại giao của Anh và Liên minh cố gắng giải quyết vấn đề trước khi căng thẳng bùng phát thành chiến tranh. Người Mỹ rất vui vì bị bắt nhưng người Anh thì tức giận. Các cuộc đàm phán đã được tiến hành vào tháng tiếp theo.

Tháng 12

Khi người Anh xây dựng quân đội và hải quân, người Mỹ cũng vậy nhưng họ đều sẵn sàng chiến đấu. Nam hai bên đã gặp nhau để giải quyết tình hình. Khi các cuộc đàm phán tiếp tục, Charles Wilkes, thuyền trưởng của San Jacinto, phải trả tự do cho các nhà ngoại giao, Mason và Slidell. Anh ấy từ chối. Lincoln nhanh chóng gửi một tin nhắn nói rằng ông không chấp nhận hành động này và yêu cầu họ cũng được thả. Anh mặc dù ngày càng mất kiên nhẫn và sẵn sàng tấn công nếu cần thiết. Trong khi đó, Pháp chậm rãi nhận thấy rằng các nhà ngoại giao cũng sẽ đến Pháp. Pháp không tức giận vì họ không đến Pháp trước. Mặc dù bây giờ Pháp không sẵn sàng tham gia vào bất kỳ cuộc chiến nào nhưng nếu cần thì sẽ đứng về phía Liên minh miền Nam. Trong khi đó, Mỹ đang nỗ lực ngăn chặn bất kỳ cuộc chiến nào và đang cố gắng thuyết phục Pháp tham gia cuộc chiến chống lại Anh trong trường hợp Anh đứng về phía Liên minh miền Nam. Vào ngày 31 tháng 12, cuộc chiến sắp xảy ra khi cả hai bên đều chuẩn bị.

Tháng một

Khi căng thẳng tiếp tục gia tăng, Hoa Kỳ cần thuyết phục cả hai bên không tham gia cuộc nội chiến theo phe CS nhưng vào ngày 14 và 15 tháng Giêng, Anh và Pháp tham gia cuộc chiến theo phe CS. Vì cả hai đều gần với biên giới Hoa Kỳ, đặc biệt là Pháp vì họ là người kiểm soát của Hoàng đế Mexico Maximilian 1 và người Mexico không chính xác là đồng minh của Hoa Kỳ.

Tháng Hai-Tháng Mười

Vào tháng 2, Grant chiếm được hai pháo đài ở Bắc Tennessee và đến tháng 4 sẽ tiến đến Shiloh để chiến đấu với lực lượng Liên quân của Anh và Liên minh miền Nam. Về phía đông quân đội Anh và Pháp đang đổ bộ vào Virginia và các tiểu bang CS khác. Khi họ đến các trận hải chiến xảy ra xuyên qua sự phong tỏa của hải quân Liên minh và các tàu đang tham chiến đang tiến về phía New England nhưng thực chất là để đánh lạc hướng các lực lượng của Liên minh biết được lực lượng Canada-Anh đang hướng tới New England. Trong khi đó McClellan bị đánh bại bên ngoài Richmond và nhanh chóng trốn thoát khỏi Virginia trước khi bị tổn thất nhiều hơn. Anh ta sẽ sớm nhận lại các phép thuật nhưng họ sẽ không sẵn sàng kịp cho Trận chiến Washington sắp tới. Khi có thêm nhiều binh sĩ đến từ châu Âu qua CSA, các lực lượng Pháp đang dần tiến vào Lãnh thổ California và New Mexico nhưng với một Quân đội Liên minh đang gây ra nhiều vấn đề cho người Pháp. Tại Shiloh, Liên minh miền Nam và các đồng minh của họ đang giành chiến thắng trong trận chiến chống lại Grant nhưng anh ta vẫn tiếp tục chiến đấu vì tin rằng mình sẽ giành chiến thắng trong trận chiến này. Khi trận chiến kết thúc, Grant đang rút lui cùng quân đội của mình đến Pháo đài Henry và Donelson. Vào cuối tháng 4, CS và đồng minh đang trên đường phố Washington chiến đấu với McClellan và những gì còn lại của Quân đội Potomac. Chính phủ đã biến mất và đang ở Philadelphia để chờ nghe kết quả của trận chiến. Ở phía bắc, người Anh đã được phát hiện gần Buffalo và Quân đội Liên minh ngay lập tức điều quân đến giao chiến nhưng họ nhanh chóng chạy trở lại Buffalo khi quân Anh tiến về thành phố với hàng nghìn quân đến vài trăm người đã tham gia giao tranh. Đến giữa tháng 5, Quân đội của Grant bị tiêu diệt tại các pháo đài và buộc phải rút lui về Cairo, Missouri. Ở phía tây, mọi thứ vẫn y nguyên như một sự bế tắc trở thành hiện thực nhưng ở DC, CS và các đồng minh đã chiếm được thành phố và đang tiến về một thị trấn có tên là Antietam ở Maryland. Lần này Liên minh thề rằng nó sẽ sẵn sàng. Trong khi đó, người Anh chiếm được Buffalo và bắt đầu tiến về phía đông về phía Albany, nơi họ dự định sẽ lăn bánh về phía Philadelphia. Một tháng sau, Liên minh mất tinh thần khi CSA và các đồng minh của cô đã bao vây Philadelphia. Chính phủ Hoa Kỳ đã không thể chạy trốn đủ nhanh. Những gì còn lại của Quân đội Potomac hiện đang bảo vệ thủ đô. Quân đội yếu và mỏng manh sau trận Antietam mà họ đã thua, và nếu mất thủ đô một lần nữa, họ sẽ phải đầu hàng. Trong khi đó, việc phong tỏa kết thúc khi các tàu của Liên minh chìm trong biển lửa và người Anh đã đảm bảo an toàn trên biển. Ở phía tây, Quân đội của Grant lại bị đánh bại và anh ta chạy trốn đến St. Louis. Các bang biên giới khác như Missouri và Kentucky bắt đầu chứng kiến ​​CSA tiến vào phần còn lại của Liên minh. Nhiều tuần trôi qua, CSA và các đồng minh đã đưa Albany và hành quân xa hơn đến các bang biên giới trong khi Philadelphia tiếp tục chết đói. Lincoln và chính phủ coi như đầu hàng khi họ bị bao vây và đang ăn những khẩu phần ăn cuối cùng. Vào ngày 28 tháng 7, họ biết được cuộc đổ bộ của Anh trên Đảo Long và họ thề rằng nếu đến ngày 10 tháng 8, người Anh không ra khỏi Đảo Long thì họ sẽ đầu hàng. 13 ngày sau, quân Anh cách thành phố New York 5 dặm và Liên minh đầu hàng. Tất cả các chuông nhà thờ CSA vang lên, pháo hoa bay lên bầu trời và súng trường được bắn lên bầu trời một cách nghi lễ. Tất cả các quốc gia gặp nhau tại Havana để thảo luận về một hiệp ước hòa bình. Các cuộc họp được tổ chức từ ngày 18 tháng 8 đến ngày 25 tháng 8. Hiệp ước Havana được thực hiện và nó thực hiện nhiều điều thay đổi bản đồ:

  • Hoa Kỳ, Pháp, Anh và tất cả các quốc gia khác phải công nhận Liên minh các Quốc gia Hoa Kỳ.
  • Biên giới của CSA sẽ bao gồm tất cả các tiểu bang ly khai cùng với Lãnh thổ New Mexico, Missouri, Lãnh thổ Da đỏ và Kentucky.
  • Và cuối cùng, Hoa Kỳ không còn có thể viện dẫn Học thuyết Monroe hoặc can thiệp vào các vấn đề của Liên minh miền Nam hoặc bất kỳ quốc gia châu Âu nào ở bất kỳ đâu trên thế giới.

Hiệp ước được ký thành luật vào ngày 1 tháng 9 bởi tất cả các quốc gia tham gia vào cuộc xung đột (Pháp, Anh, Mỹ, CS). Hiện Mỹ đã mất một phần đất nước nhưng nhanh chóng sử dụng các thủ đoạn chính trị để gây rối với CSA.

Tháng Mười Tháng Mười Hai

Mỹ nhanh chóng bắt đầu các chiến thuật chính trị của mình khi họ bắt đầu thông qua các sửa đổi trong hiến pháp trao quyền bình đẳng và cấm chế độ nô lệ. Tất nhiên họ nhằm mục đích tạo ra các cuộc nổi dậy của nô lệ ở miền nam. Lúc đầu, các chiến thuật này không thực sự hiệu quả nhưng đến cuối tháng 10, các chiến thuật này đang hoạt động khi nô lệ nổi dậy ở Nam Carolina, Alabama, Georgia và Mississippi. Liên minh miền Nam lúc đầu không nhận ra điều đó nhưng Mỹ đã xúi giục những cuộc nổi dậy này để làm cho CSA trở nên tồi tệ. Trong khi đó ở châu Âu, Anh và Pháp bắt đầu quay trở lại tập trung vào các thuộc địa, các vấn đề nội bộ của mình và tất nhiên là ở châu Âu. Trong CSA, quân đội suy yếu đang cố gắng dập tắt những cuộc nổi dậy này nhưng thực sự rất khó khăn vì hầu hết quân đội đều có nguồn cung cấp kém hoặc đang trải qua cuộc đào ngũ lớn. Các chiến thuật của Hoa Kỳ hiện đang hoạt động tốt. Ở châu Âu, căng thẳng đang gia tăng nhanh chóng khi thế giới có thể phải đối mặt với một cuộc chiến tranh giữa Pháp và Phổ về những vấn đề có thể ảnh hưởng đến thế giới mãi mãi. Khi một năm kết thúc, quốc gia mới của CSA đã gặp phải những vấn đề từ hệ tư tưởng của mình và nhiều vấn đề khác sẽ sớm xảy ra.

Trong khi đó, khi các cuộc nổi dậy trên khắp CSA bị dập tắt, Hoa Kỳ bắt đầu xây dựng lại các thành phố đã bị tàn phá trong chiến tranh. Họ cũng bắt đầu thuê thêm các tướng lĩnh châu Âu để giúp đào tạo quân đội của họ đồng thời hiện đại hóa hơn nữa trong trường hợp một cuộc chiến tranh khác với CSA phát sinh mà nhiều khả năng có thể xảy ra. Mặc dù là những người châu Phi đầu tiên được tự do, nhưng bạo lực vẫn nảy sinh giữa người da trắng và người da đen. CSA cố gắng ngăn chặn nó nhưng không thể ngăn nó lan rộng ra xung quanh. Ở châu Âu, Pháp và Anh đang bắt đầu sử dụng những cách thức cũ khi họ đe dọa lẫn nhau và liên minh của họ kết thúc nhanh như mới bắt đầu. CSA thấy mình đang gặp khó khăn hơn khi Anh đe dọa sẽ không giao dịch với CSA nếu họ tiếp tục giao dịch với kẻ thù của mình. CSA không chắc chắn về những gì phải làm. Trong khi đó, Hoa Kỳ đang cố gắng thu hồi các khoản nợ do chiến tranh nhưng đang nhanh chóng tìm cách kiếm đủ số tiền cần thiết. Mặc dù họ là một xã hội hầu như bình đẳng ở miền Bắc, nhưng người dân đã trở nên phân biệt chủng tộc hơn khi họ đổ lỗi cho người da đen về nỗi buồn của họ nhưng họ vẫn được chấp nhận. Trong khi đó, các quốc gia khác đang quay lưng lại với chế độ nô lệ, bao gồm Brazil và những quốc gia khác và những quốc gia sử dụng chế độ nông nô trong trường hợp mọi người bắt đầu có ý tưởng về một quốc gia mới để họ trao cho họ tự do nhưng điều đó không đảm bảo đối xử bình đẳng. Những sự kiện này sẽ ảnh hưởng đến các sự kiện thế giới trong nhiều thập kỷ khi chế độ nô lệ chết dần và tự do lan rộng khắp thế giới. Các sự kiện được biết đến với cái tên "Lần nghe thấy tiếng súng thứ hai trên toàn thế giới" vì nó ảnh hưởng rất nhiều đến thế giới.

Mặc dù tự do đã lan rộng, bình đẳng vẫn chưa phổ biến. Ở miền Nam, các cuộc nổi dậy tiếp tục diễn ra và nô lệ đột nhiên được trả tự do một cách vội vàng khi thời hạn được rút ngắn xuống còn 1880. Ở châu Âu, người Ba Lan bắt đầu được chú ý khi cuộc nổi dậy của họ chống lại Nga trở thành một cuộc cách mạng khi sự ủng hộ ở châu Âu dành cho người Ba Lan. Trong khi đó, Tây Ban Nha cố gắng và thất bại trong việc chiếm các thuộc địa cũ. Ở phía nam, một cuộc chiến tranh nổ ra ở Nam Mỹ khiến Paraguay chống lại Brazil, Uruguay và Argentina. Tất nhiên, CS có tham vọng một ngày nào đó sẽ kiểm soát phần lớn đất đai ở phía nam của nó, vì vậy nó quyết định can thiệp thay mặt cho Brazil và các đồng minh của cô ấy. Mỹ không thể làm gì nên họ ngồi nhìn chiến tranh nổ ra ở miền nam. Mỹ quyết định khơi mào một cuộc nổi loạn ở Canada để khiến CSA trông xấu đi vì họ dường như là nguyên nhân của tất cả cuộc nổi loạn và chiến tranh này. Vào tháng 6, người Ba Lan đã chiếm các thành trì của Quân đội Nga ở Ba Lan. Chẳng bao lâu nữa, phần lớn đất nước Ba Lan và Lithuania cũ đã được đảm bảo an toàn khi Cuộc nổi dậy của người Ba Lan trở thành Cách mạng Ba Lan. Phổ và Anh bắt đầu bí mật cung cấp cho Ba Lan những nguồn cung cấp cần thiết khi người Nga tiếp tục thua trận này qua trận khác.


The Trent Affair

Thương vụ Trent vào năm 1861 đã đưa Anh và Liên minh đến bờ vực chiến tranh, được ngăn chặn bởi sự trở lại của các đặc phái viên của Liên minh đã bị hải quân Liên minh bắt giữ từ tàu Trent của Anh.

Thế hệ những người miền Nam thành lập Liên minh miền Nam Hoa Kỳ đã chậm chạp trong việc đánh giá cao nhiệm vụ khó khăn trong cuộc chiến chống lại một Hoa Kỳ cấp trên trong rất nhiều lĩnh vực quan trọng — được trang bị tốt hơn, có tổ chức, kinh nghiệm, được tài trợ và có nguồn lực đáng kể cả về nhân lực và vật chất. Mặc dù niềm tự hào của miền Nam đã che mờ những thực tế về lợi thế của miền Bắc, nhưng giới lãnh đạo Liên minh thừa nhận sự cần thiết của việc tán tỉnh người châu Âu, đặc biệt là Anh và Pháp. Vào cuối mùa hè năm 1861, chính quyền Jefferson Davis - một phần là do sự tự tin ngày càng tăng từ những chiến thắng trên chiến trường của Quân miền Nam và một phần từ những thất vọng về những nỗ lực ngoại giao ban đầu - đã chuẩn bị cử hai ủy viên có tầm vóc phù hợp để đứng đầu các quân đoàn chính thức của Liên minh ở London. và Paris nhân sự kiện được cả Anh và Pháp công nhận độc lập của Liên minh miền Nam. [1]

Hai đặc sứ được chọn là những nhân vật quốc gia với lý lịch dày dặn, phần lớn trong số đó đã gây ra cảnh báo cho người miền Bắc. James Murray Mason ở Virginia đã phục vụ tại Thượng viện Hoa Kỳ trong thập kỷ hỗn loạn dẫn đến ly khai và trên thực tế, đã thúc đẩy chương trình nghị sự về quyền của các bang của ông đối với việc tách khỏi Liên minh khi ông phản đối Thỏa hiệp năm 1850 và quyền tác giả của ông đối với Luật nô lệ chạy trốn. Người miền Bắc cũng quen thuộc với John Slidell của Louisiana, người được cử làm đặc phái viên của Tổng thống James Knox Polk đến Thành phố Mexico vào năm 1845 trong một nỗ lực ngăn chặn chiến tranh thất bại. Giống như Mason, Slidell cũng phục vụ tại Thượng viện vào những năm 1850, nơi ông cũng tự khẳng định mình là một người cực đoan chống Liên minh miền Nam. Được nhiều người mô tả là có sự nhạy bén của một tay chơi cờ bạc trên sông, việc bổ nhiệm ông kết hợp với Mason để gây lo ngại cho những người miền Bắc đang quay cuồng sau nhiều tháng cố gắng không thành công để buộc miền Nam tuân thủ và những người lo sợ rằng nhiệm vụ của Liên minh sẽ trùng khớp với một ý thức ngày càng tăng. ở London và Paris về tính tất yếu của một Liên minh bị cắt đứt. [2] Thêm vào nỗi lo lắng là việc miền Nam đã trang bị cho các nhà ngoại giao của mình bằng King Cotton. Sự thèm ăn của người châu Âu đối với loại sợi mỏng manh hoàn toàn có thể cung cấp chút động lực cuối cùng để cho phép các Quốc gia Liên minh Châu Mỹ thỏa mãn mục tiêu chính của ủy viên: một “nơi [giữa các quốc gia] với tư cách là một dân tộc tự do và độc lập”. [3]

Vào ngày 12 tháng 10 năm 1861 Mason và Slidell, cùng với các thư ký của họ và gia đình của Slidell, đã thành công vượt qua sự phong tỏa của Liên minh ra khỏi Charleston trên CSS Theodora. Vài ngày sau, họ đến Cardenas, Cuba, nơi họ sắp xếp hành trình cho tuần đầu tiên của tháng 11 tới Saint Thomas trên tàu hơi nước Anh RMS Trent. Từ Saint Thomas, họ dự định đặt chuyến đi đến Southampton, Anh. [4] Khi đoàn tùy tùng của Liên minh miền Nam chờ đợi chặng đường của họ từ Cuba đến Tây Ấn của Đan Mạch, Thuyền trưởng Charles Wilkes của tàu USS San Jacinto đến khu vực này, được tái triển khai từ bờ biển Châu Phi để hỗ trợ trong một cuộc tấn công của Liên minh vào Port Royal, Nam Carolina. Mặc dù mệnh lệnh của ông hướng dẫn ông đến bờ biển phía nam, nhưng khi đến Havana, ông đã biết được kế hoạch của các ủy viên miền nam và cũng như thông lệ của mình, phớt lờ mệnh lệnh và lập kế hoạch đánh chiếm các chiến lợi phẩm của Liên minh miền Nam, Mason và Slidell. [5]

Mặc dù không tìm thấy tiền lệ pháp lý nào trong luật pháp quốc tế để loại bỏ Mason và Slidell khỏi một con tàu trung lập, Wilkes, vào ngày 7 tháng 11, đã nằm ngoài khơi bờ biển Cuba ở Kênh Bahamas chờ sự xuất hiện của Trent. Trong một cuốn tiểu thuyết về luật học hàng hải, Wilkes đã lên kế hoạch chỉ định các phái viên là “hiện thân của các phái đoàn”, biến họ thành những mục tiêu hợp pháp để bắt giữ. [6] Vào khoảng giữa trưa ngày 8 tháng 11, Wilkes nhìn thấy Trent và ra lệnh cho một phát súng cảnh cáo, sau đó là một phát súng thứ hai xuyên qua mũi tàu. Với cái này Trent di chuyển đến. Wilkes chỉ đạo sĩ quan điều hành của mình, Trung úy Donald McNeill Fairfax, lên tàu Anh với lực lượng thủy quân lục chiến vũ trang. Mặc dù ông được chỉ thị thu giữ các đặc sứ và thư ký, túi ngoại giao của họ, và tuyên bố con tàu sẽ được giải thưởng để đưa ra tòa án xét xử, Fairfax chỉ đi cùng các ủy viên và thư ký của họ. Khả năng chống lại mã thông báo và tính toán thông minh của Mason khi lần đầu tiên nhìn thấy San Jacinto yêu cầu một sĩ quan Hải quân Hoàng gia lấy giấy tờ của anh ta và Slidell và bảo mật chúng, ngăn không cho Fairfax chiếm được các túi ngoại giao. Trung úy còn vi phạm mệnh lệnh của mình và thả con tàu ra, cho rằng đó sẽ là một gánh nặng không cần thiết và tệ hơn, có thể kích động chiến tranh với Anh. Trớ trêu thay, Fairfax quyết tâm cho phép Trent để tiếp tục hành trình của nó sẽ sớm làm leo thang khủng hoảng và góp phần nói về chiến tranh. [7]

Vào giữa tháng 11, Wilkes đưa những người bị bắt đến Boston, nơi họ tham gia cùng các tù nhân khác của Liên minh miền Nam tại Fort Warren. Các dây điện báo cho đến nay chỉ mang tin tức thảm khốc cho Liên minh đã nhanh chóng lan truyền tin tức về việc bắt được Mason và Slidell. Phản ứng trên toàn miền Bắc là tích cực. Cuối cùng, sau bảy tháng thất bại, một chiến thắng của Liên minh đã dẫn đầu các tiêu đề. Một phóng viên ở Boston đã đăng bài thơ của mình trên Bản ghi buổi tối hàng ngày đỏ mặt về việc Wilkes đã từ chối “chờ đợi, để nghiên cứu về Vattel và Wheaton” (cơ quan luật pháp quốc tế), mà thay vào đó đã mạnh dạn “bỏ trò chơi của mình, và để lại hành động cho ngoại giao buồn tẻ.” [8] Trong khi đó, các quan chức Mỹ bắt đầu xem xét tính hợp pháp của vụ việc và thường tuyên bố hành động này là hợp lý. Wilkes là anh hùng của thời đại, giành được sự khen ngợi từ các nhà lãnh đạo địa phương, sự công nhận đặc biệt từ Quốc hội và lời khen ngợi từ chính quyền Lincoln. Tuy nhiên, tất cả chỉ là trước khi tin tức về vụ việc đến London. Có lẽ, may mắn cho cả London và Washington là tuyến cáp xuyên Đại Tây Dương mới đã bị hỏng và tin tức một lần nữa được chuyển sang chuyển giao xuyên Đại Tây Dương bằng tàu hấp thư. Sự chậm trễ trong việc truyền tải tin tức và thông điệp sẽ chứng tỏ yếu tố quan trọng trong việc ngăn chặn vụ việc này bùng phát thành một cuộc xung đột Anh-Mỹ tiềm tàng. [9]

Vào ngày 25 tháng 11, các báo cáo về vụ việc đã đến Anh với một con tàu chở một sĩ quan của Trent và gia đình Slidell. [10] Hai ngày sau, báo chí Luân Đôn kể lại vụ việc. Các phái viên của Liên minh vẫn còn tại vị từ những ngày đầu của cuộc chiến đã thể hiện sự phấn khích so với những người miền Bắc tại thời điểm này và gửi đơn khiếu nại lên Lãnh chúa Russell tại Bộ Ngoại giao, nhấn mạnh sự phản đối của họ rằng hành động của Wilkes là một sự vi phạm rõ ràng tính trung lập của Anh. . Sự hào hứng của những người miền Nam được sánh ngang với sự phấn khích của quân đoàn Hoa Kỳ ở London khi các nhân viên ở đó nhận được báo cáo. Chỉ có trợ lý của Bộ trưởng Charles Francis Adams, Benjamin Moran, và con trai của Bộ trưởng Henry trong số những người trong văn phòng hợp đồng dường như đánh giá cao sự chia rẽ nghiêm trọng của mối quan hệ này với Vương miện. [11] Khi bộ trưởng nhận được tin báo vào cuối ngày, ông lo sợ điều tồi tệ nhất và bắt đầu chuẩn bị cho một cuộc đột nhập giữa Washington và London. Adams sẽ duy trì thái độ này khi một cơn bão lửa thổi xung quanh ông từ báo chí và người dân Anh phẫn nộ trong vài tuần tới. Sự căng thẳng của Adams càng tăng thêm do sự thiếu hụt các chỉ thị của Ngoại trưởng William Henry Seward khiến bộ trưởng phải chao đảo cho đến giữa tháng 12. Adams có thể "không suy luận gì, cho rằng không có gì, không tưởng tượng gì cả." [12]

Trong khi đó, vào ngày 28 tháng 11, một Thủ tướng Lord Palmerston đầy phẫn nộ đã gọi nội các của mình với vẻ nghiêm nghị "Tôi không biết liệu bạn có chịu đựng điều này hay không, nhưng tôi sẽ chết tiệt nếu tôi làm vậy!" Bộ trưởng Chiến tranh George Cornwall Lewis cảm thấy chiến tranh là không thể tránh khỏi. Bộ Ngoại giao đã gửi thông báo tới Paris rằng sự xúc phạm của Mỹ là một hành động khiêu khích rõ ràng có khả năng gây ra chiến tranh. Vào ngày 29 tháng 11, Palmerston đã trình bày với Bộ trưởng Ngoại giao Lord John Russell các yêu cầu của ông về một giải pháp hòa bình - một lời xin lỗi chính thức và trả tự do cho các đặc phái viên. Nếu không đảm bảo các yêu cầu này, Bộ trưởng Anh tại Washington, Lord Richard Lyons, sẽ được chỉ đạo thu thập các giấy tờ của mình và rút lui, do đó phá vỡ quan hệ với Washington. Đây sẽ là tối hậu thư của Palmerston cho Lincoln. [13]

Sự phẫn nộ của Palmerston bắt nguồn từ một chút danh dự quốc gia Anh. Các quan chức luật của Vương miện đã được hỏi ý kiến ​​và kết luận rằng Wilkes đã vi phạm luật pháp của các quốc gia khi không nhận giải thưởng hợp pháp - giấy tờ và con tàu. [14] Khi đội trưởng của Trent Chống lại cuộc khám xét thích hợp và không cung cấp giấy tờ của Liên minh, về mặt kỹ thuật, anh ta đã từ bỏ quyền trung lập và khiến con tàu trở thành một giải thưởng hợp pháp để bị thu giữ và đưa về cảng để xét xử. Tuy nhiên, trung úy của Wilkes đã không khai thác được sai lầm của Trent thuyền trưởng và chỉ cần lên tàu Trent và bắt giữ đoàn tùy tùng của quân miền Nam. Bằng hành động này, Fairfax đã tự chỉ định mình là một tòa án giải thưởng ảo và đưa ra phán quyết bất hợp pháp. Ngay cả những người Mỹ sắc sảo cũng biết và than thở riêng rằng cách điều động của Wilkes sẽ không bị soi xét. Ở London, Henry Adams không thể tin được thái độ sai trái được phản ánh trong lễ kỷ niệm Wilkes ở Mỹ. Bộ trưởng Adams phàn nàn rằng hành động của Wilkes dựa trên giả định sai lầm rằng các ủy viên đại diện cho một chính phủ “được công nhận”, trong khi trên thực tế, họ không hơn gì “những quý ông riêng biệt” đi du lịch dưới lá cờ trung lập giữa các cảng trung lập. [15] Wilkes rõ ràng đã vi phạm sự trung lập của Anh, và việc người miền Bắc khăng khăng ca ngợi hành động của ông vì đã vặn đuôi sư tử Anh làm dấy lên bóng ma về chiến tranh Anh-Mỹ. Mối đe dọa chỉ được tăng cường bởi tình cảm diều hâu đã được thiết lập của Seward, người đã liên tục đưa ra các cử chỉ khiêu khích trong vài tháng qua. [16]

Vào ngày 30 tháng 11, hai bản thảo chỉ thị cho Lyons đã được nội các xem xét và chuyển tiếp vào tối hôm đó cho Nữ hoàng, đề xuất rằng bà “yêu cầu sửa chữa và khắc phục”. Hoàng tử Albert, từ nơi sẽ sớm trở thành giường bệnh của mình, đã đáp lại Nữ hoàng. Albert sợ rằng ngôn ngữ của tối hậu thư sẽ khiến Lincoln không thể tuân thủ và vì vậy đã chỉnh sửa lời nhắn để bao gồm hy vọng rằng Wilkes đã hành động theo ý mình hoặc rằng ông đã "hiểu sai" mệnh lệnh của mình. Và, trong khi nhấn mạnh rằng Vương miện sẽ không dung thứ cho việc xúc phạm lá cờ hoặc làm gián đoạn thư tín, ông vẫn tin tưởng rằng vấn đề có thể được giải quyết một cách hòa bình với "sự phục hồi của những hành khách không may và một lời xin lỗi phù hợp." Sự can thiệp của Hoàng tử Albert sẽ tỏ ra rất quan trọng trong việc cung cấp cho chính quyền Lincoln một giải pháp cứu vãn mặt khỏi cuộc khủng hoảng. [17]

Công văn kết hợp các khuyến nghị của Albert rời London đến New York vào ngày đầu tiên của tháng 12 và vượt qua hành trình của mình để nhận các báo cáo từ The Times phóng viên tại Mỹ, William Russell, và các công văn từ Lord Lyons, mỗi người kể lại phản ứng tưng bừng đối với vụ việc ở Hoa Kỳ. [18] Lyons thấy ít dấu hiệu cho thấy người Mỹ đánh giá cao tác động nghiêm trọng của vụ việc đối với quan hệ Anh-Mỹ và trên thực tế, hoàn toàn nghĩ rằng việc Seward đã cho phép Wilkes thực hiện hành động khiêu khích. Seward đã thiết lập một mô hình hùng biện hiếu chiến lên đến đỉnh điểm vào giữa Trent khủng hoảng khi anh ta bối rối trong một bữa tiệc tối với sự hiện diện của William Russell rằng Hoa Kỳ sẽ "bao trùm cả thế giới trong biển lửa." [19] Báo cáo đầu tiên của Russell về Trent sự việc được xuất bản vào ngày 4 tháng 12 và cảnh báo độc giả trong một vài ngày tiếp theo sau đó rằng "bạo lực tinh thần giữa các mệnh lệnh thấp hơn của người [Mỹ]," sẽ khiến Lincoln không thể nhượng bộ. [20] Công văn ban đầu của Lord Lyons về vụ việc đã đến Văn phòng Ngoại giao cùng với đánh giá của Russell và lặp lại tình cảm rằng người dân Hoa Kỳ hài lòng khi đã chọc giận John Bull. Niềm vui sướng tột độ từ Hoa Kỳ hiện đang tràn ngập các tờ báo ở London đã làm tăng triển vọng bài hùng biện của Seward trở thành hiện thực. Thần dân Anh đã bị khuấy động để góp phần vào ngọn lửa chiến tranh. Henry Adams ở bên cạnh mình để hiểu thái độ liều lĩnh của những người đồng hương của mình: “Làm thế nào nhân danh tất cả những gì có thể tưởng tượng được, bạn có thể cho rằng nước Anh sẽ ngồi im dưới sự xúc phạm như vậy. Chúng tôi lẽ ra phải nhảy ra khỏi ủng của mình ở một nơi như vậy ”. Ngay cả khi tin tức cuối cùng đã đến với quân đoàn Mỹ ở London vào giữa tháng 12 rằng hành động của Wilkes đã không được cho phép, Charles Adams sợ rằng cái chết đã được chuẩn bị cho chiến tranh. [21]

Adams nhận thức rõ về việc chuẩn bị quân sự do Vương miện khởi xướng để đối phó với Trent cuộc khủng hoảng. Công việc chuẩn bị trong tháng 12 bắt đầu chậm chạp với sự ấn tượng của chiếc máy hấp trục vít ít có khả năng đi biển Melbourne để cung cấp cho Montreal, nhưng vào giữa tháng 12, đã bao gồm việc triển khai hơn 11.000 người đàn ông đến Canada. Và để thấy rằng ý nghĩa của việc chuyển quân không bị Hoa Kỳ bỏ qua, lãnh sự Hoa Kỳ tại Liverpool đã được mời cùng với các nhân viên của mình để xem quân đội nộp mười tám chuyến vận chuyển đến Canada. Thêm một lưu ý về sự táo bạo, các chuyển động đôi khi được đi cùng với ban nhạc hải quân hoàng gia nổi bật lên “Dixieland” hoặc “I’m Off to Charleston”. Tương tự như vậy, ở Canada, những người dân lo lắng đã thể hiện sự kích động của họ trước Mason và Slidell và viễn cảnh chiến tranh bằng cách nâng panh khi các nhạc sĩ vang lên “Dixie” trong các quán rượu địa phương. [22]

Trong khi đó, chỉ thị cho Lyons đã đến Washington và cung cấp cho bộ trưởng phạm vi đáng kể về thời gian và phương thức chuyển giao - một tín hiệu rõ ràng rằng, bất chấp sự phản đối của công chúng, London hy vọng có thể ngăn chặn chiến tranh. Công văn bao gồm hai bức thư riêng, mỗi bức đều nhằm mục đích làm dịu tối hậu thư. Trong lần đầu tiên, Lyons được hướng dẫn đến gặp Seward một cách không chính thức để đánh giá khả năng của Seward trước khi đưa ra các yêu cầu của Vương miện, do đó, ngầm kéo dài thời hạn của tối hậu thư. Bức thư thứ hai hoãn lại theo quyết định của Lyons về cách tiếp cận và giọng điệu gửi thông điệp tới Seward. Russell cũng cho Lyons một khoảng thời gian đáng kể trong việc xác định xem và khi nào các yêu cầu của Vương miện được thỏa mãn một cách thích đáng. Tuy nhiên, trong sự linh hoạt này, Lyons hiểu rõ rằng các yêu cầu cơ bản là trả tự do cho các ủy viên Liên minh và một lời xin lỗi thích hợp trong vòng bảy ngày kể từ ngày chính thức gửi tối hậu thư. [23]

Như Lyons đã chờ đợi chỉ thị, một số yếu tố kết hợp để làm giảm cơn sốt chiến tranh của Anh. Vào ngày 14 tháng 12, Hoàng tử Albert qua đời. Cái chết của người phối ngẫu của Nữ hoàng đã làm chuyển hướng mọi sự chú ý của công chúng đến vấn đề tang tóc và hạn chế sự kích động đối với Mason và Slidell. [24] Ba ngày sau khi Albert qua đời, Adams nhận được công văn được chờ đợi từ lâu từ Seward nói rằng, thực ra, Wilkes đã tự hành động và rằng Vương miện nên dự kiến ​​một giải pháp có thể chấp nhận được. [25] Ngoài ra, ngày càng có nhiều sự đánh giá cao đối với sự yếu kém trong hệ thống phòng thủ của Canada được phản ánh qua tin tức rằng một số cơ sở quân sự quan trọng đã được chuyển đổi thành trường giáo dưỡng và trại tị nạn. Finally, any British talk of war had to factor in a potential French reaction. Neither Palmerston nor the Queen trusted Napoleon to control his Machiavellian nature. If Britain became distracted by a war with the United States the emperor would be tempted to pursue some grand adventure at odds with British interests. [26]

With war talk waning in London, it devolved to Lyons and Seward to see to a remedy in Washington. On December 19 Lyons approached Seward informally with the Crown’s demands and volunteered to Seward that he would expect a response within seven days of the official delivery of Russell’s message. Lyons attempted to make the formal delivery on the December 21, but Seward requested an additional delay. By the time Lyons made the official transmission (starting the seven-day clock) on December 23, he had noted a new sense of optimism reflected in a change of attitude as Seward “does not like the look of the spirit he has called up.” [27] Reason had overtaken the secretary of state and convinced him along with most US citizens that war with Britain would doom the Union to fracture and ensure the permanence of the Confederate States of America. Mason and Slidell had gone from trophies to millstones. [28] Chairman of the Senate Foreign Relations Committee, Charles Sumner, who had advocated submitting the issue to arbitration, laid out for Lincoln the likely outcome of a war with Britain. These included immediate recognition of the Confederacy by London followed soon after by Paris and de facto southern independence the end of the blockade and loss of the fleet the installation of a British blockade of the U.S. coast from Virginia to New England and commercial exploitation by the British of a new American trade dependency. [29] Sumner joined a cabinet meeting on Christmas to consider Seward’s reply to Lyons and to pass words to the cabinet from prominent British leaders advocating peace. The following day the cabinet reconvened and, after four hours, supported Seward’s recommendation that Mason and Slidell be released. Most of the cabinet offered support, but Treasury Secretary Salmon P. Chase was unenthusiastic, considering it all “gall and wormwood.” Seward stayed on after the meeting to inquire why the president had not offered, as Seward had anticipated, an opposing view. Lincoln conceded that he had been unable to “make an argument that would satisfy” his own mind and Seward’s position, thus, must be “the right one.” [30]

The cabinet assigned Seward the task of constructing language that met the demands of the ultimatum without being seen as yielding to the pressure of the ultimatum. In this effort he first devalued Mason and Slidell, suggesting that their continued retention was of little importance. He then stated that Wilkes had acted correctly in stopping the Trent for a proper search as a neutral engaged in transport of contraband, but had erred by not seizing the ship as a prize under international law. Mason and Slidell would thus be released with reparations. No formal apology, however, would be issued. Seward then proceeded to reach for high ground, stating that the United States as champion of the rights of neutrals would grant to Britain the same protections that Americans had historically insisted upon. In this he, according to Gordon Warren, produced “a monument to illogic,” conflating impressment into naval service with the arrest of the Confederate envoys. [31] Also, Seward included a caveat in his response that went overlooked. If Mason and Slidell had held any importance to the security of the Union, the United States would have been within its rights to continue to hold them. In other words, Seward gave them up not strictly on admission that Britain was correct in its legal position, but because the commissioners were of no consequence to the security of the nation. [32]

On the day after Christmas Seward informed Lyons that the commissioners and their secretaries would be surrendered. On January 1 they were released and transferred to the British warship Rinaldo. Their transatlantic voyage, however, was interrupted once again. This time a winter storm caused the ship to reroute to Saint Thomas, ironically, their original destination. From there they finally managed a successful voyage to Britain, arriving in London at the end of January. [33] By that time, the crisis had dissipated. Lyons’s dispatch with Seward’s concession had been announced to cheering crowds in London theaters in the second week of January. To the chagrin of southerners, Anglo-American peace seemed assured. Also disappointing to Confederates was the cool reception of Mason and Slidell by British officials. In fact, the London papers disparaged the commissioners as holding no more value that two of their own slaves and expressed irritation at their role in the crisis. So, what had started as a victory for Confederate diplomacy turned, by most estimates, into an abject failure. Confederate observers in Europe noted that the peaceful resolution of the incident had strengthened the Palmerston government and bolstered British neutrality in the conflict. Hopes that agitation over the Trent would join King Cotton to deliver British intervention were greatly diminished as the Civil War entered its second year. One of the first biographies of Jefferson Davis described the end of the Trent affair as “one of the first of numerous disappointments…in the hope, so universally indulged, of foreign intervention.” [34]

  • [1] Howard Jones, Blue and Gray Diplomacy: A History of Union and Confederate Foreign Relations (Chapel Hill: University of North Carolina Press, 2010), 16-20 Evidence of early ineffective Confederate diplomacy is plentiful. For example, Lord Russell virtually shut down the first mission with an emphatic refusal to entertain Confederate overtures and a clear message that neutrality would be the Crown’s policy. See Russell to Yancey, Rost, and Mann, August 24, 1861, United States Navy Department, Official Records of the Union and Confederate Navies in the War of the Rebellion (Washington D.C.: Government Printing Office, 1894-1927), Series I, volume 3, p. 248 (hereafter cited as O.R.N., I, 3, 248). Russell to Yancey, Rost, and Mann, August 7, 1861, in Yancey, Rost, and Mann to Toombs, August 7, 1861, Ibid., I, 3, 237 Russell to Yancey, Rost, and Mann, August 24, 1861, Ibid., I, 3, 248 See also, Gordon H. Warren, Fountain of Discontent: The Trent Affair and Freedom of the Seas (Boston: Northeastern University Press, 1981), 2-3.
  • [2] The U.S. correspondent for the London Times, William H Russell, published a letter in the Times on December 10, 1861 describing Slidell as a “’wire-puller—a man who unseen moves the puppets on the pubic stage…who loves the excitement of combinations,…and who in his dungeon… would rather conspire with the mice against the cat sooner than not conspire at all.” Quoted in Charles Francis Adams, The Trent Affair: An Historical Retrospect (Boston: 1912), 8.
  • [3] Hunter to Mason and Slidell, Sept 23, 1861, O.R.N., II., 3,257-73 Frank L. Owsley, Jr., King Cotton Diplomacy: Foreign Relations of the Confederate States of America 2009 ed. (Chicago: University of Chicago Press, 1931) Jones, Blue and Gray, 84.
  • [4] Mason to Hunter, October 9, 1861, O.R.N.,II, 3, 280.
  • [5] For Wilkes’s insubordinate reputation see William Jeffres, “The Civil War Career of Charles Wilkes,” in Tạp chí Lịch sử Nam Bộ (August, 1945): 324-48 and John Sherman Long, “Glory-Hunting off Havana: Wilkes and the Trent Affair,” in Civil War History 9 (June 1963): 133-44 Norman Ferris, The Trent Affair: A Diplomatic Crisis (Knoxville: University of Tennessee Press, 1976), 24 Wilkes to Welles, November 15, 1861, O.R.N.,I, 1, 131 Howard P. Nash, Jr., A Naval History of the Civil War (South Brunswick and New York: A.S. Barnes, 1972), 57.
  • [6] Wilkes to Welles, November 16, 1861, O.R.N., I, 1, 144.
  • [7] Ferris, Trent Affair, 24 Warren, Fountain, 16-23 Wilkes instructions to Fairfax, November, 8, 1861, O.R.N., I, 1, 131-32 Report of Fairfax to Wilkes, November 12, 1861, Ibid., 133.
  • [8] For the flavor of the northern excitement see Warren, Fountain, 26-30.
  • [9] Jones, Blue and Gray, 92 Warren, Fountain, 28.
  • [10] Dean B. Mahin, One War at a Time: The International Dimensions of the American Civil War (Washington D.C.: Brassey’s, 1999), 66.
  • [11] Henry Adams, The Education of Henry Adams (Boston: Houghton Mifflin, 1961), 119 Sarah A .Wallace and Frances E. Gillespie, eds., The Journal of Benjamin Moran, 1857-1865, 2 vôn. (Chicago: University of Chicago Press, 1949) II:912-14 Warren, Fountain, 103.
  • [12] Frank J. Merli, Great Britain and the Confederate Navy, 1861-1865, 2004 ed. (Bloomington: University of Indiana Press, 1970), 80.
  • [13] Lewis to Palmerston, November 27, 1861, Palmerston Papers, Historical Manuscripts Commissions (HMC), Chancery Lane, London Hammond to Cowly, December 2, 1861, Cowly Papers, British National Archives (PRO) FO 519/190, Kew Gardens Merli, Great Britain, 79 Warren, Fountain, 109 Palmerston to Queen Victoria, November 29, 1861, in Arthur Christopher Benson, and Viscount Esher, eds., Letters of Queen Victoria, 3 vols, (London: John Murray, 1907) 3:469 Palmerston to Russell, November 29, 1861, Russell Papers, PRO 30/22/21(PRO) Jones, Blue and Gray, 95.
  • [14] For a discussion of the views of the Crown’s law officers see Alice O’Rourke, “The Law Officers of the Crown and the Trent Affair,” Mid-America 54 (July 1972): 157-71 Adams offers an interesting reflection on the conflict amongst the law officers concerning the actual basis of British objections and, in fact, on at least one take were in agreement with Senator Sumner’s brother’s contention that Wilkes had acted in keeping with “English principles” and “English practices.” See Adams, Education, 22-26.
  • [15] Ibid., 12.
  • [16] Jones, Blue and Gray, 96 Ferris, Trent Affair, 58 Warren, Fountain, 64-69 A number of Lyons’s dispatches demonstrated his concern over Seward’s posture. Lyons to Russell, May 6, 1861, FO 5/763 (PRO) Lyons to Russell, May 6, 1861, PRO 30/22/35 (PRO) Lyons to Russell, May 20, 1861, FO 5/764 (PRO).
  • [17] Ferris, Trent Affair, 51-262 Queen Victoria to Russell, December 1, 1861, Russell Papers, PRO 30/22/21 Russell to Lyons, November 30, 1861, FO 5/758 Jones, Blue and Gray, 98 Mahin, One War, 68 For a discussion of Albert’s role and its support from the Times see Norman B. Ferris, “The Prince Consort, The Times,Trent Affair,” Civil War History 6 (June 1960): 152-6.
  • [18] Ibid., 69.
  • [19] W.H. Russell, My Diary North and South (London: Bradbury & Evans, 1863), 331 Warren, Fountain, 174-5 Jones, Blue and Gray, 102.
  • [20] Times, December 4 and 10, 1861.
  • [21] Lyons to Russell, November 19, 1861, FO 115/258 (PRO) Seward to Charles Francis Adams, November 27, 1861, vol 18, Diplomatic Instructions, Great Britain, National Archives (DINA) For Adams’s despair that continued after Seward’s disclaimer see Charles Francis Adams to Charles Francis Adams, Jr., December 20, 1861, in Worthington C Ford, ed., A Cycle of Adams Letters, 1861-1865, 2 vols., (Boston and New York: Houghton Mifflin, 1930) 1:88-9 See also Jones, 102-3.
  • [22] For British movements toward a war footing and Canadian security see Kenneth Bourne, “British Preparations for War with the North, 1861-62,” Đánh giá lịch sử tiếng Anh 76 (October 1961):600-32 Warren, Fountain, 120-41.
  • [23] Russell to Lyons, November 30, 1861, O.R.N., I, 1,156-60 Lyons to Russell, December, 19, 1861, FO5/777 (PRO) Merli, Great Britain, 81 Warren, Fountain 177.
  • [24] Merli, Great Britain, 83.
  • [25] Seward to Adams, November 27, 1861, DINA, vol. 18 Warren, Fountain, 164.
  • [26] Victoria to Russell, October 28, 1860, Russell Papers, PRO, 30/22/14 (PRO) Palmerston to Russell, December 30, 1861, Cowley Papers, FO 519/199 (PRO) Merli, Great Britain, 82 Jones, Blue and Gray, 100-1 For an exhaustive treatment of the French posture toward the American Civil War see Lynn M. Case and Warren F. Spencer, The United States and France: Civil War Diplomacy. (Philadelphia: University of Pennsylvania Press, 1970).
  • [27] Lyons to Russell, December 23, 1861, FO5/177 (PRO) Jones, Blue andGray, 104-5 Warren, Fountain, 177.
  • [28] Merli, Great Britain 83 Chase quotation in Ibid., 79.
  • [29] For Sumner’s caution see Warren, Fountain, 178 Mahin, One War, 77.
  • [30] Warren, Fountain, 182-3 For a discussion of Sumner’s position on the crisis see Victor H. Cohen, “Charles Sumner and the Trent Affair.” Tạp chí Lịch sử Nam Bộ 22 (May 1956): 205-19.
  • [31] Warren, Fountain, 184.
  • [32] Seward to Lyons, December 26, 1861, O.R.N., I, 1,177-87 Warren, Fountain 183-4 Jones, Blue and Gray,106-08.
  • [33] Mahin, One War, 80 Warren, Fountain, 211-12.
  • [34] Warren, Fountain, 212-13 Russell to Lyons, January, 10, 1862, O.R.N., I, 1,:189 Jones, Blue and Gray, 110-11 Times, January 9,10,11, 1862 Ferris, Trent Affair, 191 Quotation of Frank H. Alfriend in Mahin, One War, 82.

If you can read only one book:

Ferris, Norman. The Trent Affair: A Diplomatic Crisis. Knoxville: University of Tennessee Press, 1976.


The Trent Affair: When the United States and Great Britain Nearly Went to War

When a Union warship stopped a British mail steamer during the Civil War, it touched off an international incident.

In November 1861, word swept through London that an American warship, James Adger, in port at Southampton, was planning to put to sea and intercept a British ship bringing Confederate emissaries to Europe. As a result, the American minister to Great Britain found himself summoned to see the British prime minister at his residence at 94 Piccadilly. Charles Francis Adams made his way through the yellow gloom of a London fog and found Lord Palmerston waiting for him in the library. Palmerston immediately complained to Adams that Adger’s captain and crew, while “enjoying the hospitality of this country, filling his ship with coals and other supplies, and filling his own stomach with brandy should, within sight of the shore, commit an act which would be felt as offensive to the national flag.”

Earlier in the year, President Abraham Lincoln had proclaimed a blockade of Southern ports, after which Great Britain and France commenced a policy of neutrality that carried with it the rights of belligerent action by the Confederacy. It was the only important concession made to the Confederate states by European powers during the war. The Confederate commissioners in Britain at that time were a poor lot, while the United States foreign minister, Adams, the son of former President John Quincy Adams, was a skilled diplomat who had been urged by Secretary of State William H. Seward to be bold in asserting American rights.

Confederate diplomacy in Europe was more complacent, based on a belief in the economic power of “King Cotton” upon which British and French mills were dependent. Confederate President Jefferson Davis subscribed to this view. Prior to the war, England and Europe had imported nearly 85 percent of their cotton from the South. Nearly one-fifth of the British population earned its livelihood from the cotton industry, while one-tenth of Britain’s capital was invested in cotton as well. However, there was no official Confederate policy to produce a phony cotton famine in Europe or rush cotton abroad to fill the coffers of the South. It would be a short war, in Davis’s view. If it lasted longer, a concomitant cotton famine would inevitably bring Great Britain into the war to safeguard her economic interests and rescue the South.

Mason and Slidell: The Confederacy’s European Diplomats

William L. Yancey had resigned as Confederate envoy to Britain. In his place, Davis assigned a pair of trusted political cronies to represent Southern interests in London and Paris. James M. Mason, Yancey’s replacement, was a strange choice in the view of well-connected political wife Mary Boykin Chesnut, who wrote in her diary: “My wildest imagination will not picture Mr. Mason as a diplomat. He will say ‘chaw’ for ‘chew’ and he will call himself ‘Jeems’ and he will wear a dress coat to breakfast. Over here whatever a Mason does is right. He is above the law.” His Paris-based associate John Slidell was a better choice. Slidell was a skilled politician and sophisticated New Yorker who had married a French-speaking Creole and moved to New Orleans.

In October, Mason and Slidell were in Charleston waiting to run the blockade aboard CSS Nashville, a fast steamer heading directly for England. Tuy vậy, Nashville had a deep draft and could only use one of Charleston’s channels, which were heavily guarded by Union warships. The diplomats booked passage on Gordon, a ship chartered for $10,000 by George Trenholm, who ran a cotton brokerage, finance, and shipping firm, with offices in Liverpool. The Fraser, Trenholm Company did much of the banking for the Confederacy in Great Britain. The shallow-draft Gordon, renamed Theodora to confuse Union blockaders, could use any channel she left Charleston at 1 am on October 12 and easily evaded the blockade. “Here we are,” Mason wrote gleefully, “on the deep blue sea, clear of all the Yankees. We ran the blockade in splendid style.”

Two days later the diplomats arrived in Nassau but missed their connection with a British steamer. They turned for Cuba, hoping to find a British mail ship bound for England. Arriving in Cuba on October 15, they found that British mail ships did dock at Havana but that they would have to wait three weeks for the next ship, RMS Trent.

The Union’s Hunt For the Diplomats

Union intelligence sources thought Mason and Slidell had escaped aboard Nashville. Thus the U.S. Navy dispatched James Adger, commanded by John B. Marchand, with orders to intercept Nashville. On October 3 the Union steam frigate San Jacinto, commanded by 62-year-old Captain Charles D. Wilkes, arrived at St. Thomas in the Danish West Indies. He was hunting the Confederate raider CSS Sumter.

Wilkes, a gifted astronomer, had experienced many ups and downs in his naval career. Early on, he had won accolades for his voyages of discovery to Antarctica and the Fiji Islands. But repeated displays of bad temper and insubordination had landed him in hot water with his superiors, and Wilkes had been shunted aside to a minor bureaucratic desk in Washington before receiving orders to take command of the steam warship San Jacinto on patrol off the coast of West Africa. He was directed to sail the ship home for refitting. Characteristically disobeying orders, Wilkes determined instead to prowl the West Indies for Rebel shipping.

In Cienfuegos, on the southern coast of Cuba, Wilkes learned from a newspaper that Mason and Slidell were in Havana waiting to take passage on Trent, sailing first for St. Thomas and then on to England. Wilkes knew that Trent would have to use the Bahama Channel between Cuba and the Great Bahama Bank. He thought over the legal implications of trying to remove the Confederate envoys from the British vessel, asking the opinion of his executive officer, Lieutenant D.M. Fairfax. He decided that Mason and Slidell could be considered “contraband” and legally seized.

Boarding the RMS Trent

Trent left Havana on November 7 with Mason and Slidell on board Slidell was accompanied by his wife and children. Diplomatic secretaries James E. Macfarland and George Eustis were also part of the official company. Passing through the Bahama Channel they found San Jacinto waiting. The Federal ship spotted Trent about noon on November 8 the mail ship was flying the Union Jack. Wilkes ordered a shot fired across Trent’s bow. It was ignored. A second shot landed close to the bow. Trent hove to. Wilkes gave detailed instructions to Fairfax. “Should Mister Mason, Mister Slidell, Mister Eustis and Mister Macfarland be on board,” he said, “make them prisoners and send them on board this ship immediately and take possession [of the Trent] as a prize.” Fairfax was also instructed to seize any dispatches and official correspondence he might find.

Armed with cutlasses and pistols, Fairfax and a boarding party of 20 men approached Trent in two cutters. Fairfax boarded alone, not wishing to enflame the situation, but found Captain James Moir furious that his ship had been stopped at sea. Fairfax told him his orders, Moir refused to cooperate, and Fairfax soon found himself surrounded and threatened by passengers and crew. He had little choice but to order the armed party in the waiting boats to join him. Once again Moir refused permission for the boarding party to search the ship. Mason and Slidell came forward willingly, and Fairfax backed down, belatedly realizing that such a search would constitute a de facto seizing of the ship—a clear act of war.

Mason and Slidell formally refused to go with Fairfax but did not resist when led to the boats. Wilkes had hoped to find important documents in the captured men’s luggage but found nothing. All their dispatches had been taken in hand by Trent’s mail agent, Richard Williams, who promised to deliver them to Confederate authorities in London. In the meantime, Slidell’s furious wife and daughters heaped verbal abuse on the Union sailors, even after Fairfax grabbed one of the daughters and saved her from falling overboard after a sudden wave.

Mixed Reactions in the North About the Capture

Wilkes was still keen to seize Trent, but Fairfax talked him out of it. A prize crew would be needed, he warned, and the inconvenience to Trent’s other passengers and mail recipients was unacceptable. Wilkes reluctantly agreed, and Trent was allowed to proceed on her way. Trong khi đó, San Jacinto reached Hampton Roads on November 15 for coaling, and Wilkes was able to contact Washington. He was ordered on to Boston, where his captives were imprisoned in Fort Warren. A congratulatory telegram was waiting for Wilkes from Secretary of the Navy Gideon Welles. “Your conduct in seizing these public enemies was marked by intelligence, ability, decision, and firmness, and has the emphatic approval of this Department,” Welles informed him.

Others in the North likewise praised Wilkes and his crew. Congress thanked him for his “brave, adroit and patriotic conduct in the arrest of the traitors” and had a gold medal struck for him. He was the toast of Boston and celebrated throughout the country as a hero of the republic. Thời báo New York stoked the patriotic fervor. “We do not believe the American heart ever thrilled with more genuine delight than it did yesterday, at the intelligence of the capture of Messrs. Slidell and Mason,” the newspaper reported. To a Northern public conditioned to believe that Great Britain was decidedly pro-Confederate, the Trent affair seemed like a perfect way to put the haughty Britons in their place.


Trent Affair: 1861-1862

The Trent Affair was the diplomatic crisis that potentially brought Great Britain and the United States closest to war during the first year of the American Civil War. Although war seemed possible, both sides managed to avoid an armed conflict, and in the process gained greater confidence in one another.

Seeking international support against the North, Confederate President Jefferson Davis sent diplomats James Mason of Virginia as minister to Britain, and John Slidell of Louisiana as minister to France. Eluding the Union blockade, the Southerners reached Cuba, where they boarded a British mail steamer, the Trent, for passage across the Atlantic Ocean. On November 8, 1861, Captain Wilkes, of the USS San Jacinto , halted the Trent 300 miles east of Havana with two shots across the bow. A boarding party from the San Jacinto seized the Confederate diplomats and their secretaries, but then allowed the Trent to resume its voyage. This decision became a source of controversy with the British, many claiming that the San Jacinto had violated international law by removing persons from a ship without taking the ship to a prize court for adjudication.


Trent Affair - International Reaction:

Though Wilkes was feted and initially praised by leaders in Washington, some questioned the legality of his actions. Welles was pleased with the capture, but expressed concern that Trent was not brought to a prize court. As November passed, many in the North began to realize that Wilkes' actions may have been excessive and lacked legal precedent. Others commented that Mason and Slidell's removal was similar to the impressment practiced by the Royal Navy which had contributed to War of 1812. As a result, public opinion began to swing towards releasing the men in order to avoid trouble with Britain.

News of the Trent Affair reached London on November 27 and immediately incited public outrage. Angered, the government of Lord Palmerston viewed the incident as a violation of maritime law. As a possible war loomed between the United States and Britain, Adams and Secretary of State William Seward worked with Russell to diffuse the crisis with the former clearly stating that Wilkes acted without orders. Demanding the release of the Confederate commissioners and an apology, the British began reinforcing their military position in Canada.

Meeting with his cabinet on December 25, President Abraham Lincoln listened as Seward outlined a possible solution which would appease the British but also preserve support at home. Seward stated that while stopping Trent had been consistent with international law, the failure to take it port was a severe error on the part of Wilkes. As such, the Confederates should be released “to do to the British nation just what we have always insisted all nations ought to do to us.” This position was accepted by Lincoln and two days later was presented to the British ambassador, Lord Lyons. Though Seward's statement offered no apology, it was viewed favorably in London and the crisis passed.


Trent Affair

Các Trent affair, which occurred during the early years of the U.S. CIVIL WAR, challenged the traditional concepts of freedom of the seas and the rights of neutrals and almost precipitated a war between the United States and Great Britain.

In 1861, the newly established Confederacy appointed two emissaries to represent its government overseas. James Murray Mason was assigned to London, England, and John Slidell was sent to Paris, France. The two envoys successfully made their way to Havana, Cuba, where they boarded an English ship, the Trent, which set sail on November 7. The next day, the San Jacinto, a Union warship under the command of Captain Charles Wilkes, an officer in the U.S. Navy, intercepted the Trent. Wilkes acted upon his own authority and detained the English ship. He ordered a search of the Trent, and when the two Confederates were discovered, he ordered them to be transferred to the San Jacinto and transported to Fort Warren in Boston. Các Trent was allowed to continue without further interference.

Although Wilkes was praised by Northerners and several members of the cabinet of President ABRAHAM LINCOLN for his action against the Confederacy, his disregard for their rights as a neutral power angered the English. Wilkes had

J.M. Mason, a confederate emissary bound for London, is removed from the Trent, an English vessel. Mason and John Slidell, another confederate emissary, were removed to the U.S. warship San Jacinto in November 1861 and taken to Fort Warren in Boston.
BETTMANN/CORBIS

made the error of conducting the operation by himself rather than ordering the ship to port to undergo legal proceedings to determine if England had violated the rules of neutrality. Since Wilkes had not followed established legal procedure, he had no right to remove any cargo, human or otherwise, from another vessel.

English tempers flared and threats of war were issued. The English demands included a public apology and the release of the two Confederates. The English representative to the United States awaited orders to return to England if these demands were not met.

In England, however, news of the impending death of Prince Albert diverted attention from the Trent công việc. When the English demands were received in the United States, Charles Francis Adams, U.S. diplomat to England, was ordered to explain to the English that Wilkes had acted of his own accord, without instructions from the government. In the meantime, Secretary of State William H. Seward studied the matter carefully he knew that Wilkes's conduct had not been correct. Seward was also aware that he had two choices: war with England or release of the incarcerated Confederates. In a communiqué to England, Seward admitted the mistake of Wilkes, reported the release of Mason and Slidell, and upheld the sanctity of freedom of the seas. War with England was averted, and navigation rights were maintained.


Woodrow Wilson: President Woodrow Wilson And World War I

Zimmerman promised to help Mexico regain lost territory that the United States took away (all of Texas, Arizona, and New Mexico). Unfortunately for Zimmerman, the British intercepted the message and decoded it. Then the British eagerly delivered it to President Wilson. To persuade Congress to give him the power to wage an undeclared naval war and protect American merchant ships against German submarines, Wilson published the Zimmerman note. A wave of anger swept through the United States and the Armed Ship bill was passed.


The Trent Affair

In 1861, the USS San Jacinto, commanded by Captain Charles Wilkes, intercepted the British mail packet, RMS Trent, and captured two Confederate diplomats, James Mason and John Slidell. The incident was a diplomatic incident of the first order.

United States Naval Officer, Penny Illustrated News, 16 Nov. 1861, p. 85

At the outbreak of the Civil War, and lacking an industrial base, the Confederate government quickly identified the need to win material and diplomatic support from Britain and France.

In November 1861, the British mail packet RMS Trent, carrying the Confederate commissioners James M. Mason and John Slidell to London and Paris, was intercepted in the international waters of the Bahamas Canal by the US warship San Jacinto. Acting without official instructions, her commander, Captain Charles Wilkes, forcibly removed the commissioners and the secretaries, interning them at Fort Warren in Boston, and receiving wild acclaim in the North. The seizure of the men contravened earlier understandings of the laws of the sea Wilkes counted the men as enemy contraband, designating them 'embodied dispatches'.

Britain drafted a sharp response, which although softened somewhat by Prince Albert, demanded the release of the men within seven days, otherwise war would be declared and the Confederacy diplomatically recognised. Lord Palmerston convened a special cabinet committee to prepare for war, ordering reinforcements to Canada and to the British Navy in North American waters, and ceased the sale of saltpeter (vital for gunpowder) to foreign nations. The newspapers were full of talk of war.


Xem video: Trent Affair (Tháng Tám 2022).